Vòng đệm là chi tiết rẻ nhất trong mối ghép và cũng bị chọn qua loa nhất. Nhưng nó quyết định lực kẹp phân bố thế nào lên bề mặt, và trong nhiều trường hợp quyết định mối ghép có tự lỏng hay không.
Ba việc, theo thứ tự quan trọng:
| Loại | Tiêu chuẩn | Dùng khi |
|---|---|---|
| Phẳng thường | DIN 125 / ISO 7089 | Mặc định cho mối ghép thép |
| Phẳng bản rộng | DIN 9021 / ISO 7093 | Nền mềm: gỗ, nhựa, nhôm, tôn mỏng |
| Vênh | DIN 127 | Giữ đai ốc không rơi; hiệu quả chống lỏng hạn chế |
| Răng cưa | DIN 6797 / 6798 | Tấm mỏng, cần tiếp xúc điện, tải nhẹ |
| Khóa nêm | DIN 25201 | Rung động mạnh, chống tự lỏng thực sự |
| Vênh cong / lượn sóng | DIN 137 | Bù dung sai, giữ lực đàn hồi nhẹ |
Đường kính ngoài lớn gấp rưỡi tới gấp đôi vòng phẳng thường. Bắt bulong xuyên gỗ, nhựa, tấm nhôm hay tôn mà dùng vòng đệm thường thì đầu bulong lún vào vật liệu, lực kẹp mất dần và mối ghép lỏng ra. Bản rộng giải quyết đúng vấn đề này.
Răng bấu vào bề mặt, chống xoay tốt hơn vòng vênh ở tải nhẹ. Có hai kiểu răng ngoài và răng trong. Thường dùng trong tủ điện vì răng cào qua lớp sơn tạo tiếp xúc điện cho mối nối tiếp địa. Nhược điểm: làm hỏng lớp phủ bề mặt, và không phù hợp tải lớn.
Cặp vòng có mặt nêm ở giữa, răng cưa hai mặt ngoài. Chống tự lỏng bằng hình học chứ không bằng ma sát — chi tiết xem bài về chống tự nới lỏng. Đây là loại duy nhất trong bảng thực sự giải quyết được rung động mạnh.
Không phải lúc nào cũng cần. Khi bề mặt đủ cứng, đủ phẳng và lỗ vừa khít thì bulong có thể tì trực tiếp. Vòng đệm cần thiết khi nền mềm, lỗ rộng, bề mặt cần bảo vệ hoặc khi bản vẽ quy định.
Hiệu quả rất hạn chế. Khi siết đủ lực nó đã bị ép phẳng nên gần như hết tác dụng đàn hồi. Với mối ghép chịu rung nên dùng vòng đệm khóa nêm hoặc biện pháp khóa cơ khí.
Nên tránh. Mỗi mặt tiếp xúc thêm là một chỗ có thể lún, khiến lực kẹp giảm dần theo thời gian. Nếu bulong dài quá thì nên đổi bulong ngắn hơn thay vì chèn thêm vòng đệm.